Đình làng Trà Cổ

Phường Trà Cổ với diện tích 1390,62 ha, phía Đông giáp biển, phía Nam giáp xã Bình Ngọc, phía Tây giáp xã Hải Xuân – Bình Ngọc, phía Bắc giáp xã Hải Hoà.

Biết đến Trà Cổ là biết đến một điểm nằm ở cực Đông Bắc của đất nước, một nơi giáp danh giữa Việt Nam và Trung Quốc, thuộc tỉnh Quảng Ninh. Là nơi ” đặt nét bút đầu tiên để vẽ hình chữ S bản đồ tổ quốc Việt Nam”. Cách trung tâm thành phố Móng Cái 07 km, bờ biển Trà Cổ uốn vành hình khuyên trải dài 17 Km từ mũi Gót ở phía bắc đến mũi Ngọc ở phía nam, được mệnh danh là ” Bãi biển trữ tình nhất Việt Nam” với bãi cát trắng mịn, phẳng và rộng hoà trong làn nước xanh biếc in bóng hàng dương xanh. Vị trí vào khoảng 21º25 VĐB, 108º KĐĐ.

Trà Cổ cách Hà Nội 334km theo đường bộ Hà Nội – Hạ Long (151km) rồi theo đường 18 đến thành phố Móng Cái và đến Trà Cổ. Cũng có thể đi theo đường biển từ Hải Phòng đến Móng Cái (206km), hoặc từ Hạ Long đến Móng Cái (132km) (Gần hơn đường bộ 50km)

Đình làng Trà Cổ nằm bên trái đường theo trục đường chính, đình thuộc thôn Nam Thọ.

Theo các tư liệu lịch sử ghi lại, vào đầu thế kỷ XV, cuộc chiến tranh Trịnh – Mạc đã khiến nhân dân vùng Đông Bắc, nhất là quê hương của nhà Mạc là vùng Nghi Dương, Kiến Thuỵ (Hải Phòng) điêu đứng, nhiều gia đình phải tha hương đi tìm vùng đất mới sinh sống. Trong số đó có 12 gia đình dân chài quê ở Đồ Sơn đã lên thuyền đi về phía đông bắc. Họ đã dừng chân tại Trà Cổ ngày nay để sinh cơ, lập nghiệp. Lại có truyền thuyết cho rằng, 12 gia đình trên đi đánh cá, gặp bão biển phải dạt vào đây, rồi ở lại sinh cơ, lập nghiệp. Cái tên Trà Cổ ra đời là tên ghép của 2 làng Cổ Trai và Trà Hương với ý nghĩa luôn nhớ về quê hương Đồ Sơn của mình.

Sau khi đặt chân lên đảo, sáu gia đình nhìn thấy cảnh nơi đây hoang vu đã buồn chán và nói rằng:

“Ở đây ăn bổng lộc gì

Lộc sú thì chat, lộc si thì già”

 

Và thế là sáu gia đìng tìm cách trở về với quê hương cũ, sáu gia đình còn lại thì quyết tâm xây dựng một cuộc sống mới nơi đây. Họ nói:

“Ở đây vui thú non tiên,

Tháng ngày ngày lọc nước lấy tiền nuôi nhau”

 

Thế rồi ngày ngày họ khai phá miền đất mới, vừa đánh bắt vừa khai phá dần dần họ tạo lập được xóm làng. Ban đầu từ sáu ngôi nhà đơn sơ, rồi trở thành một xóm làng trù phú. Đến thời hậu Lê xóm làng ấy đã phát triển thành một vùng quê ổn định, là nơi cư trú với một tổ chức xã hội ổn định với một nếp sống cao hơn xóm ấp. Nhưu nhiều làng quê khác trên đất nước Việt Nam, ngôi đình làng đã được nhân dân góp công góp của xây dựng lên. Theo lời kể của nhân dân địa phương thì sau khi xây dựng, các cụ tiên công ở đây đã về quê cũ tại Đồ Sơn xin chân hương để rước các vị thừnh hoàng ở đó là Khổng Lộ, Giác Hải, Nhân Minh, Huyền Quốc, Quảng Trạch. Đồng thời tôn hai vị thần là Ngọc Sơn (Thần Núi) và Bạch Điểu Tước (Thần Chim) lên làm thành hoàng của làng.

Ở đình Trà Cổ ngoài các vị thành hoàng được nhân dân rước chân hương từ quê cũ về và hai vị thiên thần thì sáu vị tiên công có công đầu trong việc khai canh cũng được phối thờ ở hậu cung. Sáu vị tiên công này không chỉ có cứ liệu được phong thành hoàng. Nhưng việc lập bài vị thờ ở hậu cung của đình và hàng năm cứ đến mồng 1 tháng 6 nhân dân đã được coi họ là thành hoàng của làng.

Có thể nói đình Trà Cổ là một ngôi dình làng bề thế, tọa lạc giữa vùng giáp biên giới Việt Trung đã thể hiện như một cột mốc văn hóa của dân tộc Việt Nam nơi địa đầu tổ quốc.

Có ý kiến cho rằng đình Trà Cổ được xây dựng vào năm 1550. Đối chiếu lịch sử hình thành làng Trà Cổ thì có vẻ hợp lý. Trong số các ngôi đình ở Bắc Bộ, đình Trà Cổ được đánh giá là một ngôi đình khá đồ sộ, mang thuần dấu ấn của nền văn hoá Việt. Đặc biệt, đình Trà Cổ từ lâu được coi như là cột mốc văn hoá quan trọng ở địa đầu biên cương Tổ quốc. Đình Trà Cổ được xây dựng trên một khu đất có tổng diện tích là 1078m2thoáng mát. Đình được đặt quay theo hướng Nam, theo tư thế cửa hướng ra biển Đông, đúng truyền thống đình làng người Việt, trước cửa đình có cổng, nghi môn ở giữa, hai cổng phụ ở hai bên, xung quanh có tường bao quanh cao 1,5m. Đình Trà Cổ có tổng chiều dài 29,8m, rộng 18,5m; bố cục kiến trúc theo kiểu chữ “Đinh”(J), gồm 5 gian 2 chái đường và 3 gian hậu cung. Phía trong đình có tất cả 48 cột lim to, sơn son thiếp vàng, cột lim đặt trên các tảng kê bằng đá xanh vững chắc. Trong đó có những cây cột cái cao tới gần 5m, chu vi 1,63m. Và còn có 20 cây cột quân. Các cột được giăng đan với nhau bởi những hàng dầm ngang dọc. Mái lợp ngói mũ hài diện tích ngói mái là 310m2 trên bờ nóc đóa lưỡng long chầu nguyệt, bốn góc mái dắp cầu đao, con guột uốn cong hình rồng tạo nét uyển chuyển mềm mại. Công trình được liên kết với nhau bởi ba hàng xà, hai hàng xà ngang là xà thượng làm nhiệm vụnối cột cái và xà trung làm nhiệm vụ nối cột quân, một hàng xà dọc làm động, hợp với nhau nơi bờ nóc. Hai mặt trái bên nhỏ hơn làm nhiệm vụ che kín hai bên gian hồi. Năm gian bái đường có trần, trong long bái đường có sàn, trừ gian giữa nối với hậu cung lát gạch các gian bên đều có sàn gỗ cao thấp khác nhau. Sàn có tác dụng giữ cho cột không bị xiêu vẹo, đồng thời có thể làm chỗ ngồi phân biệt ngôi thứ trong làng. Kết cấu vì kèo kiểu giá chiêng – chồng rường con nhị. Trên cùng là một con rường nhỏ, giữa cột có kê một một dép dọc đỡ thượng lương. Hai đầu rương ăn mộng qua lịa hai đầu cột trốn. Một đầu cột trốn được kê trên đầu vuông thóp đáy, đầu kia đỡ đôi hoành trên cùng. Đỡ hai hoành số 2 và số 3 là một đôi rường cụt được cấu tạo để tạo một đaauf vuông thóp đáy. Câu đầu đỡ đôni hoành thứ tư và nối hai đầu cột cái. Trên câu đầu kê bốn đầu vuông thóp đáy nhỏ. Một cây gỗ lớn được cấu tạo ăn mộng qua thân cột cái, một đầu cây gỗ tạo thành rường cụt đỡ tại hoành vì lách, đầu kia tạo thành một đầu dư chạm đầu rồng làm nhiệm vụ đỡ dạ câu đầu. Các bộ vì lách được cấu tạo như sau: Một chiếc xà lách lớn, một đầu ăn mộng vào thân cột cái, một đầu gác lê đầu cột quân qua đầu vuông thót đáy đỡ hoành mái. Các con rường này nhắn dần về phía trên theo chiều dốc về mái. Các con rường trên cùng là đuôi của đầu dư tại nóc. Khoảng trống giữa các con rường được ken những tấm ván bưng mỏng và trang trí nhiều đề tài khác nhau.

Tất cả các bức cuốn vì nách đã được các nghệ nhân thể hiện một cách khéo léo tinh sảo. Các nét chạm nổi, chạm lọng, kinh long… đề thể hiện được tài năng của các nghệ nhân Việt Nam trong điêu khắc gỗ, họ đã tạo ra cho mỗi bức chạm là một tcs phẩm là một nghệ thuật đặc sắc phóng khóang. Các con rồng đều có đặc điểm chung là mắt quỷ, miệng lang, sừng nhọn, tai thú, trán dô, mũi sư tử, cằm bạnh miệng rộng mang đậm dấu ấn đương thời.

Tất cả các đầu dư đề chạn rồng với đặc điểm: Mắt tròn lồi, mũi to như mũi sư tử, trán do miệng rộng, sừng nhọn như sừng nai tai thú. Ngoài ra các đầu bảy cũng được trạm hình rồng với thân mập uốn khúc , miệng rộng mắt tròn. Toàn bộ râu rồng như những đao mác bay lượn ngược ra phía sau. Có con mình trơn, có con toàn thân phủ một lớp như vảy cá chép. Khúc duôi nhỏ dần thuôn đều, long đuôi xòe tròn như hình chiếc lá.

Trong đình còn có hàng chục bức chạm trổ sinh động, nhiều câu đối hoành phi sơn son thếp vàng, hình tứ linh còn có hình hươu sao cổ dài, có sừng, cộc đuôi, tư thế chạy hay đứng quay đầu, mồm ngậm hoa cúc. Hai đầu hồi là hai bức hoành phi sơn son thiếp vàng đối diện nhau “Nam sơn tịnh thọ (Nước Nam bền vững) – Địa cửu thiên trường (Đất vững trời dài)”. Phần Hậu cung có diện tích khoảng 72 m2. Tại đây có bức chạm bông sen ở giữa giải hoa vuông, trước hậu cung có tấm y môn bằng lụa điều thêu rồng phượng. Khác với tất cả các ngôi đình hiện có ở Quảng Ninh. Hiện nay, ở Việt Nam, ngoài đình Trà Cổ chỉ có đình Bảng (Bắc Ninh) là còn có kiến trúc kiểu ván sàn. Bên trong, phía trước các ban thờ đình Trà Cổ đều có những cửa võng, mỗi bức dài 3,4m, rộng 1,4m nối với các cột cái theo chiều dài của ngôi đình. Mỗi bộ cửa là một tác phẩm chạm trổ đầy giá trị nghệ thuật với hình nàng tiên cưỡi rồng bay trong mây. Phía trên các bức cửa võng là hình rồng chầu mặt trăng được chạm khắc mềm mại, tinh xảo. Trên hai bức cốn ở hai bên gian giữa có chạm hình một đàn rồng mẹ, rồng con đang múa lượn. Hai đầu hồi là hai bức hoành phi sơn son, thếp vàng đối diện nhau. Theo các dòng chữ Hán còn lưu lại trên bức hoành phi treo ở giữa đình thì đóng góp vào việc tu bổ, tôn tạo đình là kíp thợ mộc đến từ thôn Đạt Tài, huyện Hoằng Hoá (Thanh Hoá). Họ cư trú tại Trà Cổ, cùng nhau làm ăn, xây dựng quê hương.

Theo nhà sử học Đỗ Văn Ninh, người được biết đến với các công trình nghiên cứu về thương cảng cổ Vân Đồn thì đình Trà Cổ giá trị ở chỗ là chứng cứ cho công lao mở mang bờ cõi của tổ tiên; là chứng cứ cho mối quan hệ máu thịt giữa miền biên cảnh với các miền khác trong nước. Đình Trà Cổ còn đáng quý vì còn lưu giữ lại được nhiều chứng cứ thể hiện tinh thần dũng cảm chống phong kiến của ông cha ta nữa. Bức hoành phi treo phía đầu hồi phải khắc 4 chữ “Địa cửu thiên trường” có nghĩa là đất lâu, trời dài – ca ngợi sự bền vững của đất trời Việt Nam. Đáng chú ý là bức hoành phi bên trái đề “Dân đức quân hậu” có nghĩa là dân đức độ, vua nhân hậu. ý ngoài như vậy nhưng bên trong ẩn một ý phản phong tế nhị và sâu xa. Người Trà Cổ đã đảo lộn trật tự trời – đất, vua – dân. Xem thế đủ thấy việc khắc mấy chữ trên hai bức hoành phi kia là một việc làm dũng cảm, một sự dũng cảm cố ý chứ không vô tình. Trải qua thời gian, đình Trà Cổ vẫn đứng đó như biểu trưng cho sự trường tồn của văn hoá Việt. Ngôi đình đã trở thành nguồn cảm hứng cho nhiều văn nghệ sĩ sáng tác, trong đó, nổi bật nhất là ca khúc “Mái đình làng biển” của nhạc sĩ Nguyễn Cường, được nhiều ca sĩ thi giọng hát Sao Mai chọn, thể hiện.

Căn cứ vào kiểu dáng kiến trúc và điêu khắc gỗ của đình, dựa vào dữ liệu bảng chữ hán ghi trên thương lượng ta có thể khẳng định được xây dựng vào thời hậu lê và đã trải qua nhiều lần trùng tu lớn. Lần thứ nhất có lẽ vào thời Nguyễn , lần thứ hai vào năm Canh Than (1920) do ông Nguyễn Văn Đại và Bui Văn Chu tổ chức quyên góp lấy tiền tu sửa. Lần sửa này đã thay ván bưng bằng tường gạch và một số cột gỗ. Lần trùng tu thứ 3 là vào năm 1995 do trung tâm tu bổ di tích trung ương thực hiện với nguồn kinh phí do Bộ Văn hóa thong tin cấp là 100 triệu đồng.

Ngoài ra còn có một số lần trùng tu nhỏ, lần gần đây nhất là năm 1999 do trung tâm tu bổ di tích trung ương thực hiện với nguồn kinh phí do tỉnh cấp.

Hiện nay ở đình Trà Cổ có 65 hiện vật, gỗ rất quý có giá trị về mặt nghệ thuật và điêu khắc gồm:

  • Ba đỉnh hương đồng thời Nguyễn
  • Bốn cây đèn nến bằng đồng
  • Hai hạc rùa bằng gỗ thừoi Nguyễn sơn son thếp vàng
  • Một khám long đình bằng gỗ thời Nguyễn
  • Tám long ngai bằng gỗ thời Nguyễn
  • Sáu bài vị bằng gỗ, phần trên chạm hình mặt nguyệt và hoa lá, hai bên trang trí diềm mây và hoa lá cách điệu
  • Hai hộp đựng sắc phong bằng gỗ
  • 12 sắc phong chất liệu giấy
  • 1 án gian bằng gỗ thời Nguyễn
  • Bảy bức bức đại tự có niên đại thời Nguyễn hình chữ nhật, phủ sơn son thiếp vàng, 1 chiếc có diềm trang trí hoa văn hình triện móc lien hoan, sáu chiếc còn lại không trang trí
  • 8 đôi câu đối có niên đại thời Nguyễn
  • Ở đỉnh có 5 bức cửa võng

Ngoài ra đình còn nhiều hiện vật đồ thờ khác như mâm bồng, mâm triện, một cỗ kiệu bát cống.

Lễ hội đình Trà Cổ diễn ra đều đặn hàng năm từ 30-5 đến 1-6 âm lịch. Đây chính là dịp dân làng bày tỏ sự thành kính nhớ về tổ tiên. Trước ngày 30 tất cả các công tác chuẩn bị đều diễn ra nhanh chóng với sự góp sức của toàn thể dân làng, toàn thể dân làng cũng có một buổi gặp họp làng ngay tại đình thường vào ngày 28 hoặc 29 để phân công công việc cũng như đóng góp cho hội đình. Đến ngày 30-5 thì các công tác chuẩn bị đều hoàn tất, cờ băng rôn, ánh sáng… đều được trang hoàng. Chiều cùng ngày thì các Ông Voi (12 chú lợn tạ được 12 ông Đán những người ứng với 12 vị Tiên công đã có công lập nên làng Trà Cổ ngày xưa được chỉ định từ hội đình năm trước nuôi, chăm sóc) được trung bày hai hàng hai bên lối đi chính trong sân đình để mọi người chiêm ngương, cũng như chuẩn bị cho hội thi Ông Voi. Ông Voi nào tháng trong hội thi (có cân nặng, chỉ số kích thước lớn nhất) sẽ được chọn để làm tín lễ cúng lên tổ tiên ngày 1-6, sau đó thit sẽ được bày trong tiệc hội đình, Ông Đácn có Ông Voi thắng cuộc cũng nhận được phần thưởng của làng.Ngày 1 tháng 6, bắt đầu vào chính hội, đầu tiên đó là hội rước Vua ra bể (còn gọi là rước vua ra miếu, một ngôi miếu lâu đời nằm sát bờ biển Trà Cổ), với những nghi thức rất trang trọng: một đội quân cầm vũ khí, cờ thần, phường bát âm, bát bửu, tiếp đến là người cầm cờ vía (phải là người cường tráng trẻ đẹp và có đạo đức được làng bầu chọn từ cuối hội năm trước) cùng mọi người khiêng kiệu, đội trống chiêng của chùa Vạn Linh Khánh, của đền Thánh Mẫu, cả đội nhạc của nhà thờ Trà Cổ xem kẽ với các đội bê kiệu, lễ vật, quân binh, cuối đoàn là các đoàn thể như hội phụ nữ, các bô lão, các cụ bà mặc đồng phục đi chùa, cũng như nhân dân làng lối đuôi nhau thành một hàng dài rước qua trục đường chính của làng rồi dọc bờ biển trược khi đến miếu thờ. Nét độc đáo của Lễ hội đình Trà Cổ là hội thi làm cỗ, thi nấu ăn, ai nấu ăn giỏi đều được cả làng biết đến. Ngoài ra, những năm gần đây, trong suốt hội còn có nhiều hoạt đông như văn nghệ, thi thể thao (Đá bóng, kéo co, cờ tướng…), đi cà khêu… Ngày mồng 6, Lễ hội kết thúc với phần biểu diễn múa bông. Trong ngày múa bông, người ta cầu mong trời đất thần linh phù trợ cho đánh bắt được nhiều cá tôm, buôn bán phát đạt, chăn nuôi, trồng cây tươi tốt, cuộc sống ấm no. Năm 2005, Lễ hội đình Trà Cổ đã được Sở Văn hoá – Thông tin (nay là Sở VH-TT và DL) chọn giới thiệu tại Ngày hội văn hoá các dân tộc vùng Đông Bắc và đã được các tỉnh bạn đánh giá cao về giá trị, ý nghĩa của nó.

Đình làng Trà Cổ cũng mang lại giá trị cao trong hoạt động du lịch. Đình luôn mở cửa chào đón du khách bất cứ lúc nào cho dù không phải trong dịp lễ hội hay không phải mùa du lịch. Do đó nơi đây cũng là điểm đến của hầu hết các đoàn du khách mỗi khi họ đến du lịch tại Trà Cổ, không chỉ có du khách nội địa mà đình làng Trà Cổ còn thường xuyên có du khách ngoại quốc đến thăm quan. Hàng năm, lễ hội đình Trà Cổ cũng là lúc thu hút rất đông du khách đến đây tham quan, dự hội.

Nói tóm lại, đình Trà Cổ là một trong những di tích lịch sử đã được xếp hạng vào loại đặc biệt quan trọng về kiến trúc. Đây chính là ngôi đình điển hình cho đình làng việt Nam xưa kia. Đến nay, ngôi đình này vẫn còn giữ được khá là nguyên vẹn những giá trị mà nó vốn có. Lễ hội đình Trà Cổ cũng được coi là một trong những lễ hội đặc sắc thể hiện khá rõ nét nếp sống của người Việt cũng như lối sống cộng đồng gắn kết, thể hiện tình đoàn kết trong không gian một ngoi làng Việt. Ngày nay, nhân dân phường Trà Cổ vẫn đang gìn giữ rất tốt đình làng và giáo dục các thế hệ đi sau về truyền thống của làng, các sự việc lớn cần việc bàn bạc góp sức của cả làng vẫn thường xuyên được tổ chức tại đình. Có thể nói đây chính là những nét đẹp truyền thống, mộc mạc, giản di nhưng vô cùng đáng quý của nhân dân ta. Nhưng giá trị này sẽ cần đựơc lưu truyền và nhân rộng và du lịch sẽ giúp chúng ta làm được điều đó

Năm 2014 đình Trà Cổ được tu sửa mới khang trang thoáng đạt hơn, đồng thời những cọt trụ, và các điêu khắc độc đáo được cha ông tạo dựng vẫn được gìn giữ nguyên vẹn.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s